Thiên Kiến thì ai cũng có cả. Đó là cách mà con người tư duy, xem xét và hành động một vấn đề lệch chuẩn, phiến diện.
Hiểu về thiên kiến có tác dụng lớn trong việc khai thác hành vi tiêu dùng của khách hàng, từ đó tạo ra các chương trình truyền thông- marketing có tính hiệu quả.
1- Thiên kiến mỏ neo ( Anchoring Bias)
Mn thường có xu hướng tiếp nhận con số, những gì nhìn thấy đầu tiên để so sánh mọi thứ, như kiểu trông mặt bắt hình dong.
Ví dụ: sản phẩm 1 triệu, sale còn 300k. Người mua sẽ thấy rẻ vì neo vào mốc 1 triệu.
Ứng dụng: đưa ra một gói/ giá đắt lên, sau đó mới đưa những thứ vừa túi tiền hơn. Làm sao để mức chênh lệch giữa giá cũ và giá mới tạo ấn tượng; sử dụng dấu gạch giá cũ để nhấn mạnh.
2- Thiên kiến sẵn có (Availability Bias)
Não bộ đánh giá 1 sự việc là đúng chuẩn, phổ biến hoặc quan trọng chỉ vì dễ nhớ, dễ hình dung ra ngay, chứ không thực sự là đại diện
Vd: coaching/ khóa học onl những năm gần đây được gắn mác lùa gà- dù vẫn có những địa chỉ/ đơn vị đào tạo có tầm, chất lượng
Ứng dụng: truyền thông với tần suất nhất định vào tệp TA về các case study thành công khi tốt nghiệp khóa học, đa dạng angle content.
Hoặc đơn giản như Kangaroo – Máy lọc nước hàng đầu Việt Nam với campaign phát thông điệp lặp lại kinh điển
3- Thiên kiến đám đông (Social Proof)
Khi không chắc chắn, con người thường xem người khác làm rồi thực hiện theo.
VD: Cửa hàng có nhiều reviews tốt, quán có nhiều người xếp hàng, sản phẩm bán được nhiều…
Ứng dụng: Thể hiện tính số lượng ở bất kỳ chỗ nào có thể, vd: điền 40000+ người đăng kí, 2k lượt tải.. ngay dưới phần CTA Mess, hoặc thể hiện trong landing… Hoặc xin các video UGC về reup, tái bản lại
4 – Thiên kiến ác cảm mất mát (Loss Aversion)
Con người thường sợ mất hơn trước khi là kỳ vọng kiếm được thứ gì đó. Tồn tại đã rồi mới phát triển. Làm MKT 1 thời gian, sẽ có những ngành mà khai thác paint point chứng tỏ sự hiệu quả hơn là gain point VD: ngành liên quan đến tiền bạc, sức khỏe… Mất 500k còn cay hơn là nhặt được 500k
Ứng dụng: đánh vào paint của TA: Nêu hậu quả xảy ra nếu như không thực hiện
5- Thiên kiến xác nhận (Confirmation Bias)
Là một thói quen thiên vị, khi chỉ thích nghe, tin những gì mà bản thân tu duy chủ quan cho là đúng đắn. VD: Tin rằng: Con bé kia chắc ko trap mình đâu. Nó rep tin nhắn: chắc chắn là không vấn đề gì. Đến lúc nó ko rep, bơ mình: chắc bận thôi.
Ứng dụng: phải hiểu niềm tin chung của ngành/ của TA, thực hiện sự thừa nhận đó: Chúng tôi biết rằng….<niềm tin chung>, sau đó mới lồng ghép giải pháp của sản phẩm dịch vụ, bẻ gãy dần dẫn những rào cản niềm tin

