Mấy ngày vừa rồi bận cả lười viết quá, đến giờ mới tiếp tục chuỗi bài lý thuyết truyền thông tiêu biểu nè
1- Lý thuyết truyền thông tương tác biểu trưng (Symbolic Interactionnism)
Khái niệm lý thuyết tương tác biểu trưng: Con người đặt ý nghĩa cho các ký hiệu và những ý nghĩa này có khả năng kiểm soát hành vi của mỗi người
Là một trong những lý thuyết khoa học xã hội đầu tiên hướng tới giải quyết các câu hỏi về mối liên quan của truyền thông tới quá trình con người tại ra nền văn hoá và cách văn hoá cấu thành nên những kinh nghiệm hàng ngày của mỗi cá nhân, lý thuyết này được phát triển trong những năm 1920 và 1930 cho đến khi Herbert Blummer hoàn thiện và sử dụng như hiện nay
Theo đó, lý thuyết này khẳng định phản ứng của con người đối với biểu tượng phần lớn được kiểm soát bởi những biểu tượng tương tự. Vì vậy, ý nghĩa chúng ta đặt cho các biểu tượng xác định bản thân và những thực tế mà ta trải nghiệm. Khi mỗi biểu tượng được xã hội hoá, ý nghĩa sẽ được thống nhất và kiểm soát sự phản ứng và tương tác của các cá nhân đó vơi các vấn đề xã hội liên quan đến biểu tượng
Dựa theo quan điểm cá nhân, mình thấy rằng lý thuyết này có tính nghiên cứu có rộng hơn của các lý thuyết đóng khung, lý thuyết chương trình nghị sự và truyền thông xâm nhập . Bởi vì lý thuyết truyền thông tương tác biểu trưng không chỉ nghiên cứu về sự tác động của truyền thông đối với chủ thể con người, mà còn khai thác các vấn đề liên quan của nó tới quá trình con người tạo ra văn hoá, cách tạo ra văn hoá thông qua biểu tượng.
Vd: hình ảnh xe tăng húc đổ dinh Độc Lập vào ngày 30/4- đối với những người dân Việt Nam, đó là hình ảnh hào hùng, chứng minh sự tự do chủ quyền,lật đổ chế độ Nguỵ quyền Sài Gòn. Còn đối với những người ở phe còn lại, đó lại là một hình ảnh không mấy tốt đẹp, thể hiện sự chấm dứt. Theo đó, ta phân tích răng hình ảnh xe tăng húc đổ là biểu tượng, còn hiểu như thế nào thì tuỳ vào trải nghiệm và nhận thức thực tế mỗi người
11-Lý thuyết sử dụng và hài lòng ( Uses and Grafitications theory)
Lý thuyết sử dụng và hài lòng coi công chúng là người chủ động lựa chọn và sử dụng các phương tiện truyền thông để phục vụ mục đích và thoả mãn nhu cầu của mình. Thay vì trả lời câu hỏi” truyền thông đã tác động như thế nào đến công chúng ?” thuyết này tập trung phân tích” Công chúng ứng xử với truyền thông ra sao ?” Thuyết sử dụng và hài lòng có xu hướng khẳng định các đặc điểm của công chúng như lối sống, nhu cầu,, học vấn… sẽ quyết định mức độ và tính chất tác động của truyền thông đối với họ. Chính vì vậy, khi nói tới thuyết sử dụng và hài lòng, các học giả thường tiếp cận khái niệm “công chúng chủ động”
Thế nào là công chúng chủ động ?
Công chúng chủ động có thể quyết định liệu họ có mong chờ các tác động cụ thể và có nỗ lực đạt được những tác động đó hay không ? Ví đụ người đọc chủ động lựa chọn những nội dung phục vụ mục đích cập nhật thông tin mới, vì vậy tác động của bài báo đó đối với họ là cung cấp thông tin về sự kiện vừa xảy ra. Nếu họ tiếp cận bài báo với mục đích giải trí, bài báo sẽ tác động đến họ theo chiều hướng khác
Các giả định cơ bản của mô hình sử dụng và hài lòng:
- Công chúng là người chủ động và việc sử dụng phương tiện truyền thông của họ là có mục đích
- Sự thoả mãn nhu cầu của công chúng có mối liên hệ với sự lựa chọn phương tiện truyền thông nhất định: ví dụ chúng ta sử dụng facebook vì tính phổ biến và kết nối với mọi người xung quanh nhanh chóng
- Phương tiện truyền thông cũng phải cạnh tranh với các hình thức thoả mãn nhu cầu khác
- Công chúng không quan tâm tới những phán xét về mối quan hệ giữa nhu cầu của họ với phương tiện hay nội dung truyền thông cụ thể
- Các trạng thái xã hội có thể mang lại những căng thẳng hay xung đột, định hướng công chúng khi sử dụng phương tiện truyền thông
- Các trạng thái xã hội có thể giúp công chúng nhận biết các vấn đề, thu hút chú ý và xuất hiện nhu cầu tìm kiếm thông tin qua các phương tiện truyền thông
- Các trạng thái xã họi có thể làm giảm cơ hội thoả mãn các nhu cầu cụ thể trong cuộc sống thực, và các phương tiện truyền thông được coi là giải pháp thay thế
- Các trạng thái xã hội có thể hình thành mong muốn cho những người khác biết đến các phương tiện hoặc nội dung truyền thông giống mình, giúp họ duy trì vị trí trong môt nhóm xã hội cụ thể

